Quặng Uranium. Mông Cổ, 2013

Khu vực: Mông Cổ

Thời gian thực hiện: 2 năm (2012-2013)

Loại khoáng sản: Uranium

Mục tiêu: Thực hiện nghiên cứu trên một khu vực rộng lớn được cấp phép (S= 29.820 km2) ở phía tây bắc Mông Cổ bằng cách sử dụng các công cụ thăm dò vệ tinh và thực địa để xác định và khoanh vùng các khu vực có biểu hiện uranium. Chọn các điểm để khoan giếng thăm dò trên các vùng dị thường có nồng độ uranium tối đa trong đó.

Tổng quan về địa chất

Khu vực làm việc, giống như toàn bộ lãnh thổ phía tây bắc Mông Cổ, ít được nghiên cứu về mặt địa chất. Nhìn chung, khu vực được cấp phép khảo sát là một phần của khu vực chứa uranium ở Bắc Mông Cổ với trữ lượng phức hợp uranium đã biết (Th–U–Zr–Nb–Ta–Tr) với các vùng abit hóa (loại Khan-Bagda). Dựa trên sơ đồ hiện tại của các mỏ uranium ở phần phía đông của vành đai di động Trung Á và các vùng lãnh thổ lân cận (2009), khu vực nghiên cứu nằm gần 4 vùng có tiềm năng khai thác quặng uranium: Butulinnur, Tsaganshirbaeta, Mongol-Altai và Ozernaya PURZ.

Các loại mỏ uranium (chính) sau đây đã được phát hiện ở Mông Cổ:

  1. Các vật thể uranium ngoại sinh (lắng đọng do các tác nhân bề mặt – phong hóa, lượng mưa, v.v.) – 52%).
  2. Các vật thể uranium nội sinh (tức là bên trong – gắn liền với các hoạt động kiến tạo, magma, biến chất và các quá trình thủy nhiệt) – 21%; trữ lượng hứa hẹn ở các khu vực nghiền đá granit – 12%; tỷ lệ các thể uranium khác khá nhỏ, khoảng 15%.

Khu vực này được nghiên cứu cực kỳ kém. Việc xác định các địa điểm quặng uranium trong khu vực có thể thay đổi hoàn toàn kế hoạch đã được thông qua. Vì vậy, cần phải tìm kiếm các mỏ uranium ở khắp mọi nơi, không chỉ trong các loại đá được coi là khoáng hóa uranium, vốn có ở các mỏ uranium đã được phát hiện ở Mông Cổ.

Mẫu

Các mẫu được cung cấp từ 3 mỏ uranium, với khối lượng ít nhất 150 gram mỗi mỏ, trong các gói kín (làm bằng kim loại, polyetylen) và có hàm lượng uranium và các nguyên tố hóa học đã biết trong quặng, cũng như các mẫu quặng có hàm lượng uranium thấp (giá trị nền) và với hàm lượng kim loại đã biết trong đó.

Kết quả

Một khu vực rộng lớn (29.820 km2) đã được nghiên cứu. Dựa trên kết quả xử lý 11 ảnh vệ tinh quy mô lớn, ranh giới của 4 vùng quầng phân tán của khoáng chất urani với giá trị nền của hàm lượng urani tại ranh giới của chúng đã được hiển thị và lập bản đồ (CU≈0,02%).

Bốn mươi hình ảnh chi tiết bên trong 4 vùng quầng sáng, 4 địa điểm có các dị thường uranium đầy hứa hẹn, đã được hiển thị và lập bản đồ (hàm lượng quặng uranium ở các khu vực riêng lẻ trong các khu vực này có thể là 0,03 0,05% hoặc hơn) với số lượng 16 mảnh và tổng cộng diện tích sơ cấp 126,9 km2. Ngoài ra, 29 biểu hiện uranium yếu (diện tích 101,3 km2) với hàm lượng uranium < 0,03% (ở mỗi địa điểm) đã được vạch ra. Độ sâu gần đúng của sự xuất hiện của quặng uranium ở mỗi trong số 16 điểm dị thường đã được ước tính.

Như vậy, do ở giai đoạn khảo sát từ xa nên diện tích khảo sát chi tiết tại 4 điểm quặng urani đã giảm đáng kể (từ 29.820 km2 xuống còn 126,9 km2 tức là hơn 200 lần).

Một loạt ảnh vệ tinh chi tiết khác (32 mảnh) bao gồm từng điểm trong số 16 dị thường uranium đã được thực hiện. 9 dị thường đầy triển vọng đã được xác định, trong đó có thể có 9 thân quặng có hàm lượng uranium thương mại ở các vị trí uranium số 2, số 3 và số 4. Tại địa điểm số 1, cả 4 dị thường đều được đánh giá là không có triển vọng do hàm lượng uranium trong quặng thấp.

Trong thời gian khảo sát toàn bộ dị thường, thiết bị hiện trường đã vạch ra và xác định được 9 thân quặng có hàm lượng urani thương mại (SUR.>0,05), tiến hành làm rõ ranh giới, đo độ sâu xuất hiện của các thân quặng tại các điểm đo nằm trên mặt cắt địa chất của mỗi thân quặng.

Trong mỗi điểm dị thường, các điểm được chọn để khoan các giếng thăm dò với dấu hiệu về nồng độ uranium, độ dày và độ sâu xuất hiện của các thân quặng. Hàm lượng uranium trong các thân quặng dao động từ 0,05% đến 2%. Quặng có hàm lượng uranium >2% không được phát hiện.

Các mặt cắt địa chất được xây dựng tại các địa điểm dị thường với 9 loại khoáng sản và tài nguyên quặng urani và kim loại trong đó đã được ước tính.

Các thân quặng được xác nhận tại các điểm được chọn để khoan giếng bằng thiết bị thăm dò điện (một phương pháp tìm kiếm độc lập bổ sung).

Đã xác định được thân quặng #U2-05 có hàm lượng urani thương mại. Trong ảnh thể hiện lộ trình khảo sát thân quặng, điểm đo bằng thiết bị hiện trường (U2-2-1,…) điểm đề xuất khoan (U2-05-1), phần sâu (A-A).

Nguồn Mineral – Spectrum